Menu Đóng

Sư phạm của Người bị trị của Paulo Freire – Một bản phân tích

Life Art hân hạnh dịch và giới thiệu loạt bài viết liên quan đến giáo dục phản biện, mở đầu là “Sư phạm của người bị trị của Paolo Freire – Một bản phân tích”.

pedagogyoftheoppressed

______________________

Tóm tắt Lý thuyết

I.

Lý lẽ chứng minh cho một sư phạm của người bị trị.

Phân chia thành những kẻ áp bức và người bị trị – và cách tiến xa hơn thế.

Thực tế rõ ràng của sự áp bức và người bị trị.

Không ai giải phóng người khác, và không ai tự giải phóng mình một cách đơn độc. Con người giải phóng bản thân trong mối giao hảo với nhau.

Freire đặt ra một hình thức sư phạm trong đó cá nhân học cách vun đắp sự phát triển của bản thân thông qua những tình huống từ cuộc sống thường nhật cung cấp những kinh nghiệm học tập hữu ích. Đây không phải là sư phạm cho người bị trị; nó đúng hơn là sư phạm của người bị trị. Chủ thể cần xây dựng tính xác thực của anh ta từ những hoàn cảnh tạo ra các sự kiện thường ngày trong cuộc đời mình. Những văn bản cá nhân tạo ra cho phép anh ta phản ánh lên và phân tích thế giới anh ta đang sống – không phải trong nỗ lực thích nghi bản thân với thế giới, mà đúng hơn là như một phần của một nỗ lực nhằm cải cách và khiến nó phù hợp với những nhu cầu lịch sử của anh ta.

Phương pháp học tập của Paulo Freire yêu cầu học sinh làm nhiều hơn chỉ đơn giản là sao chép lại những từ ngữ đã có sẵn. Nó yêu cầu họ tạo ra từ ngữ cho riêng mình, những từ cho phép họ trở nên có ý thức về thực tế để đấu tranh cho sự giải phóng của chính bản thân. Không có phương pháp này, một số người thu nhận được một loại ý thức ngờ nghệch trong đó họ nhận thức được hoàn cảnh của mình nhưng chẳng hề nỗ lực thay đổi nó; họ chọn thái độ tuân thủ và coi hoàn cảnh của mình là một điều bình thường, thậm chí đến mức tự mình khuyến khích nó. Những cá nhân khác dựng nên thực tại của riêng họ và giải phóng bản thân khỏi sự áp bức, chỉ để tới được thái cực đối lập và trở thành người đối chọi với những gì họ đang chiến đấu chống lại.

Người nào suy xét và ngẫm nghĩ sẽ cố gắng sáng tạo bản thân từ trong ra ngoài. Anh ta tạo ra ý thức đấu tranh của mình bằng cách biến đổi thực tế và giải phóng bản thân khỏi sự áp bức đã bị sư phạm truyền thống đưa vào. Cũng theo cách đó, khi anh ta tìm được một cách nghĩ mới, hiểu biết về địa vị xã hội mình đang giữ sẽ thay đổi anh ta. Đó không nhất thiết phải là một hiểu biết duy vật, mà là một hiểu biết dựa trên kinh nghiệm, mà tầm quan trọng của nó biểu hiện trong sự giải phóng khỏi áp bức đã được tìm thấy sâu trong ý thức của cá nhân sở hữu nó. Freire nỗ lực chứng minh rằng một cá nhân, thông qua nghiên cứu có hệ thống, cũng học được cách đấu tranh cho sự kết thúc của áp bức và cho phản biện xây dựng đối với hiện trạng.

Những phương pháp mà Freire đề ra bao hàm hai tầm quan trọng riêng biệt và tuần tự: đầu tiên liên quan đến việc trở nên có ý thức về thực tế rằng cá nhân sống như một người bị trị (tồ tẹt says: điều gì đang cản trở ước mơ, mong muốn của mình) là đối tượng của những quyết định mà những kẻ áp bức áp đặt; thứ hai đề cập đến thế chủ động của người bị trị để chiến đấu và giải phóng bản thân khỏi những kẻ áp bức. Freire không tin rằng hoàn cảnh sống chỉ bao gồm một nhận thức đơn giản về thực tế. Thay vào đó, ông tin rằng cá nhân có một nhu cầu lịch sử để chiến đấu chống lại địa vị nằm trong anh ta. Những nỗ lực của người bị trị trở nên tập trung và cụ thể thông qua cách thức học tập mà trường lớp thực sự nên trao cho họ, thay vì khuyến khích họ thích ứng với thực tại, như bản thân những kẻ áp bức làm.

Trong những mối quan hệ mà họ thiết lập, người bị trị thể hiện là những kẻ xúi bẩy bạo lực, ngay cả khi các điều kiện và sự việc mà họ đã trải nghiệm cho tới thời điểm đó thúc đẩy họ cố gắng thay đổi thân phận của mình. Tuy nhiên, trong mắt của những kẻ áp bức, những trận chiến như vậy được liệt vào hàng thánh như bạo lực vô cớ hoặc những giấc mơ không tưởng, và không phải là những ý tưởng của một nhà cách mạng được biết tới nhờ cam kết tư tưởng mà ông thiết lập với các đồng nghiệp của mình, hơn là nhờ những cuộc chiến mà ông tiến hành. Mặc dù thực tế của người bị trị không phải là mong muốn của Chúa, dù Ngài không chịu trách nhiệm về tình trạng đàn áp, trong một xã hội không có lương tâm những tình trạng như thế này được xem như chuyện thường. Những tình huống này đôi khi kích động một cuộc bạo lực cùng cấp sai lầm giữa chính những người bị trị với nhau trong nỗ lực đạt được sự giải phóng của mình.

Hơn nữa, những kẻ áp bức cáo buộc những người phản đối họ về việc làm phật ý, vô trách nhiệm, suy đồi và có trách nhiệm với hoàn cảnh của bản thân họ, bất chấp thực tế rằng dù những tính từ này đôi khi cũng cũng có hiệu quả, chúng thật sự là một phản hồi khi bị áp bức và cuối cùng là kết quả của sự bóc lột mà những người này đã phải chịu. Tình hình thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn khi người bị trị chấp nhận sự thật này và thích ứng với nó mà không nghi ngờ hay thậm chí nỗ lực để thay đổi nó. Điều này tạo ra trong người bị trị một sự phụ thuộc tình cảm dường như không thể thay đổi được. Do đó, việc cần thiết là những cá nhân này phải hiểu được bản thân mình để bắt đầu đấu tranh cho công cuộc giải phóng không khoan nhượng.

II.

Khái niệm “ngân hàng” của giáo dục như một công cụ của sự áp bức. Những giả định của nó. Những phản biện của nó.

Khái niệm đặt vấn đề về giáo dục và tự do. Giả định của nó.

Khái niệm “ngân hàng” của giáo dục và sự phân chia về nhà giáo dục/người được đào tạo.

Khái niệm đặt vấn đề và khắc phục sự phân chia giữa nhà giáo dục/người được đào tạo. Không ai giáo dục người khác. Không ai tự giáo dục chính mình. Mọi người giáo dục lẫn nhau thông qua những tương tác của họ với thế giới.

Con người là một sinh vật không hoàn thiện, ý thức được sự không hoàn thiện của mình, và cuộc tìm kiếm bất tận để HOÀN THIỆN HƠN.

Hiện nay trong giáo dục tồn tại tình trạng lạm dụng thuyết trình và học thuộc lòng, mà ít phân tích đến tầm quan trọng của những gì đang được ghi nhớ. Ví dụ, năm 1945 đánh dấu sự kết thúc của Thế Chiến thứ Hai, nhưng chúng ta không biết điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống của mình như thế nào hay nó tiếp tục ảnh hưởng tới những mối quan hệ thường ngày mà chúng ta thiết lập ra sao. Chúng ta chỉ đơn thuần ghi nhớ và giữ lại ngày tháng. Freire mô tả tình trạng này như một thứ mà trong đó học sinh được xem như những cái bình chứa mà kiến thức có thể được gửi vào đó. Giáo viên là người gửi và kiến thức là thứ được gửi trên một cơ sở hàng ngày. Khái niệm ngân hàng của giáo dục này cố gắng thay đổi ý nghĩ của các cá nhân để họ có thể dễ dàng chấp nhận những hoàn cảnh thực tế hơn và bị chúng chi phối một cách dễ dàng hơn. Người nào càng thụ động thì càng dễ chấp nhận, óc sáng tạo của họ sẽ càng giảm và sự ngây thơ càng tăng, và tạo ra những điều kiện cần thiết cho những kẻ áp bức xuất hiện như một nhà hảo tâm rộng rãi.

Khi cá nhân đó không đấu tranh cho những quyền lợi của mình và cho công cuộc giải phóng về văn hóa và xã hội, dường như anh ta đã đánh mất tình yêu vào cuộc sống. Như vậy là chứng bệnh necrophilia của tình huống đã thắng thế, được sản sinh bởi loại hình giáo dục được phổ biến trong nhà trường. Sư phạm mà Freire đề xuất đi ngược lại với thứ được mô tả ở bên trên. Nó đề ra rằng một cá nhân có được tình yêu cuộc sống thông qua một quá trình nuôi dưỡng tính cách của mình – bằng cách tồn tại cùng với thế giới nhưng không thuộc về nó – một trạng thái đạt được thông qua sự giải phóng. Để điều này xảy ra chúng ta cần một nền giáo dục không còn thờ ơ và máy móc.

Giáo dục giải phóng cá nhân phải là một hành động có ý thức trong đó nội dung được thấu hiểu và phân tích, vượt qua sự phân chia tồn tại giữa giáo viên và học sinh; nó phải gạt sang một bên mối quan hệ đơn phương này và cho phép sự song phương đóng góp vào toàn bộ nền giáo dục của cả hai bên, vì cả hai đều có những yếu tố để đưa vào học tập. Nếu ý nghĩa tương hỗ, theo thuyết giá trị này bị mất đi, việc học trở thành một hành động đơn thuần về việc thuộc lòng. Vai trò của nhà giáo dục nằm trong việc nghiên cứu thế giới bao quanh người bị trị và tạo ra những điều kiện thích hợp để việc học tập tiến xa hơn “niềm tin” và đạt tới mức độ của “biểu trưng”. Loại hình học tập này giúp mọi người tạo ra những kỳ vọng mới và vươn tới một trạng thái phản ánh thật sự mà trong đó họ khám phá ra thực tế của chính mình. Nó kích thích những thách thức mới thúc đẩy học sinh hướng tới tự xây dựng thế giới trong đó họ có sự tham gia thực sự và trực tiếp vào các hoạt động mà họ đảm nhận. Tất cả những việc này đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu bản thân cá nhân đó, mà không dàn xếp việc học của anh ta thông qua những kinh nghiệm giả tạo.

III.

Chủ nghĩa đối thoại: cốt lõi của giáo dục là sự tự do trong thực hành.

Chủ nghĩa đối thoại và cuộc đối thoại.

Cuộc đối thoại bắt đầu trong việc tìm kiếm nội dung chương trình.

Mối quan hệ giữa con người và thế giới, “các chủ đề khởi nguồn”, và nội dung chương trình của giáo dục.

Nghiên cứu về các chủ đề khởi nguồn và phương pháp luận của nó.

Tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức trong nghiên cứu về các chủ đề khởi nguồn.

Các giai đoạn của một nghiên cứu như vậy.

Con người không được phép hiểu và biến đổi thực tế bao quanh anh ta khi giáo dục chỉ đơn thuần là một phương pháp được sử dụng để khiến anh ta thích ứng với thực tế. Ý tưởng của Freire là cá nhân học cách để làm chỉ việc đó thôi – hiểu và biến đổi thực tế. Để đạt được mục tiêu này, cần thiết phải thiết lập chủ nghĩa đối thoại giữa giáo viên và học sinh, vì con người không tạo ra bản thân trong sự im lặng, mà là qua ngôn từ, hành động và phản ánh. Vì vậy, việc sử dụng đối thoại là yếu tố then chốt trong học tập. Đối thoại thiết lập giữa hai đối tượng giúp gia tăng lòng tốt đối với nhau, một thứ là hành động của sự dũng cảm, chứ không phải là hèn nhát. Chúng ta không nói về một hành động ngây ngô, mà là về loại đối thoại được lòng tốt giữa con người tạo ra.

Một số người tin rằng họ là những người lãnh đạo và đến với công chúng để thiết lập một cuộc đối thoại với họ. Nhưng đó là lợi ích riêng của họ chứ không phải lợi ích của cộng đồng mà họ đang đeo đuổi. Họ khuyến khích mọi người thích nghi với một cách sống mới mà không quan tâm đến những nhu cầu lịch sử của người dân. Họ rơi vào suy nghĩ ngây thơ rằng một người nên thích nghi với những điều kiện đang tồn tại, hơn là xây dựng những điều kiện mới và phù hợp do tư duy phản biện yêu cầu – kiểu suy nghĩ dựng lên các không gian và cơ hội cho sự giải phóng và sự lật đổ chế độ áp bức thông qua hành động có ý thức.

Việc thiết lập đối thoại với một cộng đồng rất quan trọng. Vì điều này hàm ý việc sử dụng một ngôn ngữ tương tự với thứ ngôn ngữ quen thuộc của cá nhân, việc cần thiết là hòa nhập bản thân vào cuộc sống của một cá nhân – học ngôn ngữ, thói quen và suy nghĩ của anh ta. Sau đó, thông qua việc sử dụng giáo dục đặt vấn đề, những yếu tố này sẽ kết hợp để tạo ra kiến thức, vì không cần thiết phải tham khảo những không gian xa xôi khác để tìm ra các cơ hội và chủ đề cho học tập. Các chủ đề để học có thể được tìm thấy trong thực tế bao quanh cá nhân, chỉ là chúng đang bị ẩn giấu bởi “những tình huống giới hạn” mà những kẻ áp bức tạo ra. Những hạn chế này có thể biến mất qua giáo dục mà một giáo viên đặt vấn đề, người chuyển từ cụ thể tới khái quát, khuyến khích.

Khi chúng ta muốn điều tra một đề tài khởi nguồn, chúng ta nên tới nơi các cá nhân mà chúng ta muốn giải phóng ở và nghiên cứu suy nghĩ của họ, để không xem xét một cách thiếu cơ sở công việc của họ. Chúng ta muốn việc dạy học trở thành một phần trong thực tại của họ, nên đây không phải là một hành động máy móc. Sự giải phóng của một người và sự khắc phục tình trạng áp bức không đạt được bằng cách hủy hoại những ý tưởng đang tồn tại tràn ngập và lưu hành giữa những người dân. Thay vào đó, cá nhân cần phải xây dựng những ý tưởng của riêng mình và trên hết là biến đổi chúng thông qua tập quán và truyền thông ngang hàng.

Nghiên cứu chủ đề khởi nguồn bao hàm hai bước riêng biệt, mà cả hai đều liên quan đến bản thân cá nhân đó: bước đầu tiên là tới nơi các sự việc diễn ra nhằm trở nên quen thuộc với suy nghĩ của người bị trị và bước thứ hai là áp dụng suy nghĩ này vào quá trình học tập có hệ thống bằng cách chú trọng tương tác nhóm giữa những người tham gia để mỗi người đều có ý thức về thực tế của mình và thực sự biểu hiện nó. Nhưng quá trình không dừng lại ở đây. Nó bao gồm một sự tìm kiếm về phía cá nhân mức độ ý thức cao nhất có thể của anh ta. (tồ tẹt: làm sao để họ có được mức độ ý thức này?)

IV.

Chủ nghĩa phản đối thoại và chủ nghĩa đối thoại là hai khuôn khổ lý thuyết về hoạt động văn hóa trái ngược nhau: cái đầu phục vụ cho sự áp bức còn cái thứ hai cho sự giải phóng.

Lý thuyết hoạt động của chủ nghĩa phản đối thoại và những các điểm của nó:

thống trị

chia rẽ

lôi kéo

xâm lược văn hóa

Lý thuyết hoạt động của chủ nghĩa đối thoại và những đặc điểm của nó:

hợp tác

đoàn kết

tổ chức

tổng hợp văn hóa

Kẻ áp bức sử dụng chủ nghĩa phản đối thoại theo rất nhiều cách khác nhau để duy trì hiện trạng. Hắn áp chế người bị trị bằng một cuộc đối thoại luôn luôn đơn phương, biến quá trình truyền thông trở thành một hoạt động necrophilia. Một vài kẻ áp bức thậm chí còn sử dụng những công cụ ý thức hệ khác để đạt được sự thống trị của mình – giống như “bánh mỳ và xiếc” – để sự thống trị của chúng được toàn diện.

Những kẻ áp bức cũng tìm cách ngăn cản người dân đoàn kết hợp nhất thông qua đối thoại. Trong bài diễn văn ngầm của mình chúng cảnh báo rằng có thể sẽ nguy hiểm đối với “hòa bình xã hội” nếu nói với những người bị trị về các khái niệm liên hiệp và tổ chức, trong số những khái niệm khác. Một trong những hoạt động chủ yếu của chúng là làm suy yếu người bị áp bức thông qua sự xa lánh (ai xa lánh ai?????), với ý tưởng rằng việc này sẽ tạo ra những sự chia rẽ nội bộ, và rằng theo cách này sự việc sẽ duy trì được sự ổn định. So với những người chống đối lại chúng, những kẻ áp bức tỏ ra là những kẻ duy nhất có thể tạo ra sự hài hòa cần thiết cho cuộc sống. Nhưng đây thực sự là một nỗ lực nhằm chia cắt. Nếu bất cứ cá nhân nào quyết định khởi đầu một cuộc chiến đấu giải phóng, anh ta sẽ bị kỳ thị, tất cả trong nỗ lực tránh việc thực hiện tự do không tránh khỏi về phương diện lịch sử. (??????)

Một đặc điểm khác của chủ nghĩa phản đối thoại là cách thức nó dùng ý thức hệ để lôi kéo người dân tuân theo những mục tiêu nó đề ra. Đôi khi việc lôi kéo diễn ra bằng cách đẩy người dân về phía có những thứ gây bất lợi cho người bị trị. Tương tự, chủ nghĩa phản đối thoại áp đặt một mẫu hình tư sản cho cuộc sống – một mẫu hình gặp gỡ giữa mảnh đất màu mỡ trong quần chúng nhân dân cho sự lôi kéo ngầm của bài diễn văn. Rất hiếm có tổ chức nào có vai trò như thuốc giải đối với sự lôi kéo này.

Một vài nhà lãnh đạo cánh tả tới quần chúng để dẫn giải những ý tưởng của họ. Tuy nhiên, phần lớn thời gian cuộc chiến của họ tập trung vào việc đạt được quyền lực của bản thân. Khi đã đạt được mục tiêu này, họ liền lãng quên quần chúng nhân dân đã ủng hộ họ. Những cá nhân khác được gọi là lãnh đạo đùa bỡn với cả hai bên. Cử chỉ của họ đối với các tầng lớp nhân dân rất nhập nhằng và mờ ám, vì họ coi nhóm người này chỉ như một lợi điểm để thương lượng giữa chính thể đầu sỏ và bản thân họ. Sự giải phóng mà người bị trị mong muốn không bao giờ thật sự đạt được.

Một đặc điểm nữa của chủ nghĩa phản đối thoại là một cuộc xâm lược văn hóa, trong đó người bị trị là mục tiêu. Họ chỉ là đối tượng, trong khi những kẻ áp bức là diễn viên và tác giả của quá trình. Đó là một chiến thuật cao siêu được sử dụng để thống trị và dẫn đến sự giả dối của các cá nhân. Mức độ bắt chước về phía của người bị trị càng lớn, sự yên ổn của những kẻ áp bức càng cao. Vấn đề xảy ra trong quần chúng là một sự mất mát giá trị, một sự biến đổi trong cách nói của họ và, không thể lay chuyển, sự ủng hộ đối với kẻ áp bức.

Khi có một cuộc xâm lược văn hóa, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái sẽ chuyển thành lợi ích của những kẻ áp bức, những kẻ cho rằng chúng cần phải giáo dục cộng đồng, trong khi thực tế cộng đồng đó nên tự giáo dục. Một điều thậm chí còn tàn nhẫn hơn là khi một cá nhân bị trị cố gắng giải phóng bản thân và đấu tranh để thuyết phục các bạn của mình cũng làm như vậy, anh ta sẽ bị phân loại một cách tiêu cực. Đối với những kẻ áp bức, dường như chúng không thể lắng nghe mối bận tâm của cộng đồng. Như thể coi chúng là sự lo lắng quá sức. Đặc điểm này hàm ý một quan điểm thực tế đơn độc và không linh hoạt.

Ngược lại với tất cả những gì đã được giải thích ở phía trên, đặt ra sự hợp tác như một hình thức giải phóng cộng đồng. Quá trình này không xảy ra thông qua sự có mặt của một lãnh đạo cứu tinh, mà thay vào đó là qua sự đoàn kết được tạo nên khi một nhà lãnh đạo và quần chúng giao thiệp và tương tác lẫn nhau để đạt được mục đích chung về giải phóng bản thân và khám phá thế giới, thay vì thích nghi với nó. Điều này xảy ra khi họ tin tưởng lẫn nhau, như vậy một tập quán mang tính cách mạng có thể đạt được. Một tình trạng như thế đòi hỏi sự khiêm nhường và đối thoại liên tục về phía tất cả những người tham gia.

Ngoài việc hợp tác, sự đoàn kết cũng cần thiết nếu chúng ta muốn đạt được một nỗ lực chung hướng tới giải phóng. Điều này hàm nghĩa một hình thức của hoạt động văn hóa chủ trương tuân thủ sự nghiệp cách mạng mà không rơi vào phép cường điệu tư tưởng. Thay vào đó, công cuộc này được miêu tả đúng như bản chất, như một hoạt động của con người, không phải một sự kiện phóng đại.

Hoạt động đối thoại cũng đòi hỏi có tổ chức nếu muốn tránh sự kiểm soát tư tưởng từ vị trí cao nhất. Tổ chức là một yếu tố cần thiết của hoạt động cách mạng; nó bao hàm sự gắn kết giữa hoạt động và thực tiễn, tính rõ ràng, cấp tiến mà không theo chủ nghĩa bè phái, và can đảm để yêu thương. Tất cả những khía cạnh này cần phải được đề ra mà không rơi vào sự ngây thơ. Rõ ràng, để hoạt động cách mạng được thực hiện, kỷ luật, trật tự, mục tiêu chính xác, nhiệm vụ rõ ràng được hoàn thành, và trách nhiệm giải trình tới đồng bào của một người, tất cả đều phải được thể hiện. Chúng tôi không hề đề cập đến một hoạt động vô chính phủ. Thay vào đó, chúng tôi đang nhắc đến sự nhận thức cần thiết để giải thoát bản thân khỏi sự áp bức mà một người gặp phải.

Đặc điểm cuối cùng của hoạt động đối thoại là sự tổng hợp văn hóa xảy ra cùng với việc nghiên cứu các chủ đề khởi nguồn. Việc tổng hợp này cố gắng vượt qua những hoạt động thù địch bắt đầu bởi những kẻ áp bức và tiến sâu hơn chỉ đơn thuần là sự bổ nhiệm. Nó coi sức mạnh văn hóa của riêng một người như một hành động sáng tạo và xác nhận người bị trị bằng cách cung cấp một tầm nhìn khác biệt về thế giới hơn là cái đã bị áp đặt mà không có nghi ngờ hay xem xét.

Kết luận

Paulo Freire muốn cá nhân hình thành bản thân hơn là bị định hình. Tới kết thúc này, ông đề xuất rằng các chủ đề giáo dục hoặc các cơ hội phải được lấy từ những kinh nghiệm hàng ngày mà cá nhân liên tục gặp phải và rằng chúng ta tránh cạm bẫy giáo dục hiện tại dùng đến những kinh nghiệm giả tạo. Ông đề xuất rằng một người nghiên cứu cuộc sống của bản thân anh ta để nhận ra rằng anh ta cần đến cả hai và có thể đạt được một địa vị khác hẳn. (????)

Freire nhận ra rằng những thực hành ông đặt ra có thể bắt gặp “những tình huống giới hạn” ngăn chặn chúng, và rằng những tình huống này là sản phẩm của sự kháng cự về phía các tầng lớp áp bức tới bất kỳ sự thay đổi nào về địa vị mà họ đã bảo vệ nghiêm ngặt. Ông mô tả một vài phương pháp khác nhau, bao gồm cả ý thức hệ, mà những kẻ áp bức sử dụng để duy trì địa vị và hiện trạng của bản thân, và nếu có thể sẽ áp bức người dân thậm chí còn mạnh mẽ hơn, vì có một “luật của cuộc sống” mà chúng ta không thể né tránh.

Gửi phản hồi

Related Posts

0987567168